Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

KẾ HOẠCH XÂY DỰNG LẠI DINH ĐỘC LẬP CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÁI CHẾT CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM?

Lịch sử về Dinh Độc Lập có ghi: Năm 1867, Pháp chiếm xong lục tỉnh Nam kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Ðịnh Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Năm 1868, chính quyền Pháp bắt đầu cho thiết kế và xây dựng tại trung tâm thành phố Sài Gòn một Dinh thự làm nơi ở cho Thống đốc Nam kỳ, khi xây xong có tên gọi là Dinh NORODOM. 


Dinh NORODOM - Tiền thân của Dinh Độc Lập.

Công trình được khởi công ngày 23/2/1868 và hoàn tất vào năm 1871 do viên thống đốc Pháp tại miền Nam Việt Nam là Lagradìere đặt viên đá đầu tiên.
Từ 1887 - 1945, nhiều đời toàn quyền Pháp đã sử dụng dinh thự này làm nơi ở và làm việc trong suốt thời kỳ xâm lược Ðông Dương.

Ngày 09/3/1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp, độc chiếm Ðông Dương, Dinh Norodom là nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam.

Tháng 9/1945, Nhật thất bại trong chiến tranh thế giới thứ II, Pháp trở lại chiếm Nam Bộ, Dinh NORODOM là trụ sở làm việc của bộ máy chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam.

Ngày 07/5/1954, thực dân Pháp thất bại nặng nề trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ buộc phải ký Hiệp định Gienève và rút khỏi Việt Nam. Mỹ tìm cách nhảy vào thực hiện ý đồ xâm chiếm miền Nam, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành 2 miền, miền Bắc là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn miền Nam là Quốc gia Việt Nam. 

Ngày 07/9/1954, Dinh NORODOM được bàn giao giữa đại diện chính phủ Pháp, Ðại tướng Paul Ely với đại diện chính quyền Sài Gòn Thủ tướng Ngô Ðình Diệm. Ngô Ðình Diệm đã quyết định đổi tên Dinh thành Dinh Ðộc Lập.

Ngày 26/10/1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa và lên làm Tổng thống. Từ đó Dinh Ðộc Lập trở thành nơi ở của gia đình Ngô Ðình Diệm và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Ngô Ðình Diệm đã duy trì chế độ độc tài gia đình trị, dồn dân vào ấp chiến lược, thi hành luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam, không những gây phẫn uất trong nhân dân mà còn gây ra sự bất bình trong nội các chính quyền Sài Gòn. 

Ngày 27/02/1962, phe đảo chính đã cử hai viên phi công quân đội Sài Gòn là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc lái 2 máy bay AD6 ném bom làm sập toàn bộ phần chính cánh trái của Dinh. Do không thể khôi phục lại, Ngô Ðình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ - người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã. 

Ngô Ðình Diệm quyết định khởi công xây dựng Dinh ngày 01/7/1962. Trong thời gian xây dựng Dinh mới, gia đình Ngô Ðình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long (hiện nay là Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh).

Dinh Độc Lập

Công trình đang xây dựng dở dang thì Ngô Ðình Diệm bị phe đảo chính giết chết ngày 02/11/1963. Do vậy, ngày khánh thành Dinh 31/10/1966, người chủ tọa buổi lễ là Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Uỷ ban lãnh đạo quốc gia. Ngô Ðình Diệm là người khởi xướng xây dựng Dinh Ðộc Lập nhưng ông ta không được sống ở đây một ngày nào, mà người có thời gian sống ở Dinh thự này lâu nhất là Tổng thống Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu (từ tháng 10/1967 đến 21/4/1975).

Căn cứ vào tư liệu lịch sử thì dinh độc lập ngày nay được xây dựng lại trên nền đất cũ. ngày khởi công tính theo âm lịch là 30.5.Nhâm Dần. Ngày này có các hung tinh như Nguyệt phá, Đại hao, Tai sát, Thiên hỏa, Yếm đối, Chiêu dao, Ngũ hư, Thụ tử. Ngày 30 lại là ngày nguyệt tận.

Dinh Độc Lập được xây dựng theo kiểu kiến trúc chữ "Đinh", tọa Khôn hướng Cấn (Hướng đông bắc). Năm Nhâm Dần 1962, sao Ngũ Hoàng Đại Sát chiếu đến hướng đông bắc.

Như vậy Dinh thự này khởi công xây dựng vào ngày xấu, lại hướng về nơi sát tinh Ngũ Hoàng chiếu tới. Phải chăng về góc nhìn Phong thủy mà nói đây cũng chính là lý do ông Diệm bị giết chết vào năm sau đó?


LƯỢNG THIÊN XÍCH

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

NGUYÊN LÝ KHỞI LỆ CỦA TUẾ ĐỨC HỢP

"Khảo Nguyên" nói rằng: "Tuế đức hợp, đúng là can ngũ hợp với Tuế đức. Năm Giáp tại Kỷ, năm Ất tại Ất, năm Bính tại Tân, năm Đinh tại Đinh, năm Mậu tại Quý, năm Kỷ tại Kỷ, năm Canh tại Ất, năm  Tân tại Tân, năm Nhâm tại Đinh, năm Quý tại Quý. Vì vậy, Tuế đức thuộc dương, Tuế đức hợp thuộc âm".



Xét Tuế đức hợp đều thuộc về thượng cát, chỉ có nghi, không có kị. Như vậy, cặn kẽ suy ra nghĩa của nó có chia ra cương, nhu riêng biệt.

Tuế đức không cần hỏi là năm dương hay năm âm đều là thời cương, Tuế đức hợp không cần hỏi năm âm hay năm dương đều là thời nhu. Việc bên ngoài lấy cương, việc bên trong lấy nhu, đó là ghi chép từ thời cổ. (1)

Tuyển trạch gia tuy chưa luận tới như thế, khi dùng có thể lấy ý mà thông vậy.

Thích ý

Tuế đức với Tuế đức hợp đều thuộc về thượng cát thần, chỉ có nghi, không có kị. Nhưng hai cái đó thì cương nhu không giống nhau. Ấy là Tuế đức là cương, Tuế đức hợp là nhu. Khi dùng có thể căn cứ vào nguyên tắc việc bên ngoài dùng cương, việc bên trong dùng nhu, linh hoạt mà chọn dùng.

(1) Ngoại sự dĩ cương, nội sự dĩ nhu, cổ chi chí dã. 
Ngoại sự: Giao tế với dùng binh, săn bắn các việc. 
Nội sự: Hôn, táng, đái, kê (cài trâm) các việc; thời Chu, Tần thịnh hành.


LƯỢNG THIÊN XÍCH. St

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014

NGUYÊN LÝ KHỞI LỆ CỦA TUẾ ĐỨC

Tuế Đức là thiện thần của Thái Tuế, ý chỉ là chỗ đức độ của bậc quân vương, cho nên nghĩa của nó rất cát tường. Chỗ có Tuế Đức chiếu tới  thì vạn phúc đều tụ về, mọi tai ương tự tránh đi. Nếu khởi công, tu tạo tại đó tất nhiên sẽ được phúc lành phù trợ mà mọi việc hanh thông.


Tuế Đức được tính theo thiên can của năm đó. Thiên Can có năm ngôi dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm. Cùng với năm ngôi âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Trong quan hệ quân thần, vua tôi thì dương là quân, âm là thần...Ở Thiên Can cũng vậy, can dương là quân, can âm là thần. Và trong mối quan hệ đó thì tất nhiên thần phải theo quân. Quân tự mình có cái đức làm vua nên trong năm can dương của Thái Tuế đều lấy đức tại chính bản thể của nó vậy. Cho nên:

Can Giáp thì đức tại Giáp
Can Bính thì đức tại Bính
Can Mậu thì đức tại Mậu
Can Canh thì đức tại Canh
Can Nhâm thì đức tại Nhâm.

Năm can âm còn lại thần, là bề tôi, cho nên lấy chỗ hợp với quân làm đức, vì vậy:

Can Kỷ hợp với Giáp nên Kỷ lấy Giáp làm đức
Can Tân hợp với Bính nên Tân lấy Bính làm đức
Can Quý hợp với Mậu nên Quý lấy Mậu làm đức
Can Ất hợp với Canh nên Ất lấy Canh làm đức
Can Đinh hợp Nhâm nên Đinh lấy Nhâm làm gốc.

Như vậy là mười Thiên Can đã có được đức của nó. Tuế Đức như đã nói ban đầu là thiện thần của Thái Tuế, chỗ nó quản mọi việc đều cát tường hanh thông, chỉ có nghi mà không có chỗ kị vậy.


LƯỢNG THIÊN XÍCH

NGUYÊN LÝ TÍNH TOÁN CỦA KIM THẦN THẤT SÁT

Kim Thần Thất Sát được mô tả trong các sách cổ gồm có hai thuyết. Thuyết thứ nhất lấy bảy vị sao trong Nhị Thập Bát Tú là Giác, Cang, Khuê, Lâu, Ngưu, Quỷ, Tinh gọi là Kim Thần Thất Sát.

Trong bảy vị sao trên có Cang Kim Long, Ngưu Kim Ngưu, Lâu Kim Cẩu, Quỷ Kim Dương đều thuộc hành Kim.

Còn hai sao là Giác Mộc Giao và Khuê Mộc Lang đều thuộc hành Mộc. Sao Tinh Nhật Mã thuộc Thái Dương.

Theo thuyết này, ta nhận thấy trong bảy ngôi sao đó, Bốn sao thuộc hành Kim, Hai sao thuộc hành Mộc. Và có hai cát tinh là Giác và Lâu, còn lại năm sao kia là hung. Riêng sao Giác chỉ xấu về việc sửa chữa mồ mả, còn về cưới gả và tu tạo nhà cửa thì lại rất tốt. Vậy tại sao người xưa lại xếp năm sao hành Kim và hai sao hành Mộc là Kim Thần Thất Sát? Đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Còn việc gặp sao tốt thì dùng, sao xấu thì tránh là điều đương nhiên, dù nó không phải là Kim Thần Thất Sát cũng không dám dùng.

Kim Thần Thất Sát Lập Thành.

Thuyết thứ hai cũng được lưu lại trong sách cổ là Hứa Chân Quân Ngọc Hạp và Gia Dụng Tuyển Trạch Bí Thư. Có ghi rõ như sau:

Năm Giáp - Kỷ. Tại Ngọ, Mùi
Năm Ất - Canh. Tại Thìn, Tị
Năm Bính - Tân. Tại Tý, Sửu, Dần, Mão
Đinh - Nhâm. Tại Tuất, Hợi
Năm Mậu - Quý. Tại Thân, Dậu

Đây là hai thuyết được nêu trong các thư tịch cổ, trong đó thuyết thứ nhất vẫn chưa tìm được lý do tại sao lại sắp xếp như vậy, còn thuyết thứ hai thì nêu thiếu nội dung của Kim Thần.

"Thiên Hồng Phạm" có nói rằng: "Kim Thần là tinh của Thái Bạch, thần của bạch thú, chủ chiến tranh, loạn ly, chết chóc, nước khô hạn và ôn dịch. Chỗ đất nó quản kị tu bổ thành trì, xây cung thất, dựng lầu gác, mở rộng khu vườn cây cảnh, khởi công, cất nóc, xuất quân chinh phạt, di chuyển, cưới gả, đi xa nhậm chức. Nếu phạm can thần phải đặc biệt kị chỗ đó."

Vậy tại sao lại nói Kim Thần? Kim Thần là Canh, Tân và ngũ hành nạp âm thuộc Kim vậy. Nguyên lý tính toán lấy Thiên Can của năm, dùng Ngũ Hổ Độn tính đến Canh, Tân và ngũ hành nạp âm là Kim thì chỗ đó là Kim Thần.

Ví dụ như năm Giáp và kỷ thì khởi là Bính Dần, thuận hành đến Canh Ngọ và Tân Mùi. Vậy Ngọ và Mùi là Kim Thần của Giáp và Kỷ. Tiếp tục tính đến Nhâm Thân và Quý Dậu, nạp âm ngũ hành của Nhâm Thân và Quý Dậu là Kiếm Phong Kim. Vậy Thân và Dậu cũng là Kim Thần của Giáp và Kỷ.

Lại ví dụ như năm Ất và Canh. Dùng Ngũ Hổ Độn khởi Mậu Dần, đến Canh Thìn và Tân Tị, vậy Thìn và Tị là Kim Thần của Ất và Canh, đồng thời Canh Thìn và Tân Tị có ngũ hành nạp âm là Bạch Lạp Kim nên tính hết vòng độn cũng không tìm thêm được ngũ hành nạp âm thuộc Kim nữa. Vì vậy Ất và Canh chỉ có Thìn và Tị là Kim Thần.

Ngoài ra phỏng theo thế.

Theo "Tuyển Trạch Tông Kinh", lấy Ngũ Hổ Độn được phương Canh - Tân là Thiên Kim Thần, tuần nạp âm thuộc Kim là Địa Kim Thần. Lấy Thiên Kim Thần làm trọng, phải đặc biệt kị chỗ đó. Lại nói Thiên Kim Thần còn có một tên nữa là  Du Thiên Ám Diệu, phạm phải sẽ bị tai nạn về mắt, rất chuẩn xác.

Như vậy, Căn cứ vào khởi lệ của Kim Thần ta có thể thấy rằng:

Năm Giáp - Kỷ thì Ngọ Mùi là Thiên Kim Thần, Thân Dậu là Địa Kim Thần.
Năm Ất - Canh thì Thìn tị là Thiên Kim Thần (Cũng là Địa Kim Thần)
Năm Bính - Tân thì Dần mão Tý Sửu là Thiên Kim Thần, Ngọ Mùi là Địa Kim Thần
Năm Đinh - Nhâm thì Tuất Hợi là Thiên Kim Thần, Dần Mão là Địa Kim Thần
Năm Mậu - Quý thì Thân Dậu là Thiên Kim Thần, Tý Sửu là Địa Kim Thần.

Đây chính là nội dung đầy đủ và chính xác nhất về lý thuyết Kim Thần Thất Sát, làm căn cứ để học giả tính toán cát hung khi chọn phương hướng và ngày giờ khởi sự.


LƯỢNG THIÊN XÍCH

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA BỘ MÔN PHONG THỦY VÀ THUẬT TRẠCH NHẬT

Trong dòng chảy thời gian ngàn năm qua, bộ môn Phong Thủy đã đóng vai trò rất to lớn, giúp cho con người có được môi trường sống hài hòa với thiên nhiên để từ đó tạo ra cái gốc vững chắc cho sự sinh tồn và phát triển đến ngày nay.

Giống như các bộ môn thuật số phương đông khác, bộ môn Phong Thủy cũng được xây dựng dựa trên triết lý của Kinh Dịch, vì vậy nó có nhiều điểm tương đồng cả ở trong các hệ phái Phong Thủy cũng như các môn thuật số bắt nguồn từ Kinh Dịch, ví dụ như môn Trạch Nhật, tức thuật chọn ngày giờ tốt. Phong Thủy và Trạch Nhật có thể nói là theo nhau như hình với bóng, Nếu như ta đã chọn được cuộc đất tốt lành theo thuật phong thủy, nhưng lại lập vận hoặc cải tạo vào thời gian không thích hợp thì chắc chắn người sống trên cuộc đất đó sẽ gặp phải tai họa.

Từ xưa đến cũng đã có quá nhiều ví dụ về việc dùng Phong Thủy không đúng thời mà phải chịu tai họa. Đơn cử như trong tác phẩm Tòng Sư Tùy Bút của Khương Diêu có nhắc đến một chuyện như sau:

Thông gia của tôi (Tức Khương Diêu) nhờ địa sư Quảng Diên ngoài mười năm mới tìm được cuộc đất cực đẹp. Vòng Giáp Tý niên hiệu Khang Hy thứ 23, vận 1 sơn Nhâm hướng Bính (Hướng nam). Sau khi táng một năm thì toàn gia bị bệnh dịch chết hết. Con cháu của họ tranh cãi về chuyện này cho đến tận ngày nay vẫn chưa dứt.

Vận 1, sơn Nhâm hướng Bính.

Phu tử Đỗ Lăng (Tức Tưởng Đại Hồng, sư phụ của Khương Diêu) lên núi quan sát thì cười mà nói: "Cuộc đất này đúng là đẹp, nhưng đáng tiếc phạm vào phản ngâm phục ngâm, gặp họa vì táng không đúng thời vậy!"

Qua câu nói trên của đại sư Tưởng Đại Hồng, ta có thể thấy được hai nguyên nhân dẫn đến kết cục bi thảm trên. Thứ nhất là cuộc đất phạm phản ngâm, phục ngâm. Thứ hai là táng không đúng thời.
Tạm gác lại lý do thứ nhất, ta hãy xem tại sao cuộc đất đó lại táng không đúng thời. 

1. Năm Giáp Tý thuộc tam hợp thủy cục, tam sát tại hướng nam, sơn Tị bị Kiếp Sát, phương Ngọ là Tai Sát, phương Mùi là Tuế Sát, hai phương Bính - Đinh phạm sát.

2. Năm Giáp Tý thượng nguyên, sao Nhất Bạch nhập trung cung, Ngũ Hoàng Đại Sát chiếu tới hướng nam.

3. Năm Giáp Tý, Thái Tuế đóng tại hướng bắc, Tuế Phá đóng tại hướng Nam.

Như vậy có thể thấy rằng cuộc đất tọa Nhâm hướng Bính mà táng vào năm Giáp Tý thượng nguyên sẽ phạm phải Tam Sát, Tuế Phá và Ngũ Hoàng Đại Sát. Cho dù hình thế Loan Đầu có hoàn mỹ đi chăng nữa nhưng lý khí Phong Thủy phạm phản ngâm phục ngâm, hung sát lưu niên tập trung ở hướng quá mạnh thì lập tức phát sinh tai họa là điều dễ hiểu.

Trong quá trình nghiên cứu và chiêm nghiệm Phong Thủy, bản thân tôi cũng đã chứng kiến những trường hợp gặp họa do hung sát lưu niên tập trung ở hướng bị kích động, đơn cử như một nhà tại quận Hoàng Mai - Hà Nội. Tọa tý hướng ngọ (Hướng nam), lập vào vận 7.

Vận 7, sơn Tý hướng Ngọ.

Nhà này lập trong vận 7, đắc cục Đả Kiếp, địa thế gần đường lớn. Bước qua vận 8 thì suy. Năm Nhâm Thìn 2012, Tam Sát tại hướng nam, đồng thời năm đó nhà nước cải tạo lại con đường phía trước mặt tiền nhà, xe tải chở đất đá và máy công trình hoạt động liên tục đã kích động tính hung của Tam Sát nên năm đó vợ của chủ nhà phát bệnh ung thư, May mà phát hiện kịp thời và điều trị sớm nên bệnh đã dứt.

Đây chỉ là một trong những ví dụ điển hình để nói lên sự tương tác của Phong Thủy với thời gian. Qua đó có thể thấy rằng nếu như ta được một cuộc đất tốt lành nhưng lập không đúng thời thì cũng phát sinh tai họa. Còn nếu như cuộc đất suy bại, gặp hung sát của Thái Tuế chiếu đến, thêm việc kích động lên thì họa đến khôn lường.
Cho nên người làm Phong Thủy đã tính toán được không gian của cuộc đất mà không tính đến thời gian lập vận thì đã phạm phải lỗi lớn vậy.


LƯỢNG THIÊN XÍCH

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

PHẢN NGÂM - PHỤC NGÂM TRONG PHONG THỦY HUYỀN KHÔNG

"Trạch vận Tân án" viết, tai họa do Phản ngâm Phục ngâm gây ra chẳng kém gì cách cục Thượng sơn Hạ thủy, nếu phạm vào cách cục này lập tức người chết, tiền hết. Cho nên Phản ngâm Phục ngâm là cách cục nguy hiểm nhất cho Dương trạch và Âm trạch. Nhưng không phải tất cả các trường hợp Phản, Phục ngâm đều gây ra tai họa, mà còn phải phân biệt như sau.
Trường hợp Sơn tinh phạm Phản, Phục ngâm nếu khu vực có Sinh,Vượng khí của Sơn tinh có núi hay nhà cao thì nhà đó vẫn phát tài phát lộc. Nếu những khu vực này không có núi mà lại có thủy thì người trong nhà sẽ gặp những tai họa khủng khiếp. Ngược lại, nếu những khu vực có khí suy, tử của Sơn tinh mà lại có núi cao thì cũng là điều cực kỳ nguy hại cho những ai sống trong căn nhà đó. Nhưng nếu những khu vực này lại có Thủy thì sát khí của Sơn tinh đã được hóa giải nên vô hại.
Trường hợp Hướng tinh phạm Phản, Phục ngâm nếu khu vực có Sinh,Vượng khí của Hướng tinh lại có thủy của sông, hồ, ao, biển hoặc cửa ra vào thì nhà đó vẫn phát tài phát lộc. Nhưng nếu những khu vực này không có thủy mà lại có núi thì sẽ làm cho nhà đó tán gia bại sản, cơ nghiêp lụi bại. Ngược lại, nếu những khu vực có suy, tử khí của Hướng tinh mà lại có Thủy thì cũng bị tán gia bại sản, còn nếu có núi thì Hướng tinh nơi đó đã được hóa giải nên vô hại.
Cho nên, khi gặp trường hợp phạm Phản, Phục ngâm thì cần phải xem xét những yếu tố tác động có thể làm cho chúng gây họa để hóa giải hoặc giảm bớt, hoặc tìm cách tránh né, như không xây nhà hoặc đặt Mộ phạm vào cách cục đó, hoặc có thể lựa chọn địa hình bên ngoài, hay cấu trúc bên trong cho phù hợp để hóa giải hết, hoặc giảm bớt những điều xấu.
Lấy cách cục Cấn sơn Khôn hướng vận 8 làm ví dụ (cách cục này hướng tinh phạm Phục ngâm). Phục ngâm toàn cục là Hướng tinh. Mà vì lý do nào đó vẫn bắt buộc phải xây nhà và vào ở trong nhà này thì có thể tìm những nơi có vượng khí và sinh khí của Hướng tinh, xem địa hình bên ngoài nhà tại những nơi đó có sông, hồ, ao, biển không? Nếu có thì dù nhà này bị phạm Phản, Phục ngâm như thế nhưng vẫn vượng về tài lộc, và có thể sống được.
Ngược lại nếu những khu vực đó không có Thủy thì phải thiết lập Thủy Nhân Tạo, tức là phải mở cửa sau tại phía Đông Bắc (nơi có vượng khí số 8), xây hồ bơi tại khu vực phía Bắc (nơi có sinh khí số 1), làm cầu thang tại khu vực phía Nam (nơi có sinh khí số 9). Còn những nơi khác thì có thể làm phòng ăn, phòng khách, phòng ngủ, hoặc bỏ trống, hoặc chứa đồ, thì tài lộc của căn nhà này vẫn tốt và có thể phát triển lâu dài.
Phản ngâm Phục ngâm: tức là tăng năng lực vì cùng một số,lúc đó năng lực của Cửu tinh là tốt hay xấu sẽ tăng lên gấp nhiều lần
Nếu hướng tinh là Vượng tinh mà lại bị Phản ngâm hay Phục ngâm: trường hợp này không ngại,chỉ cần có Thuỷ ở hướng nếu đắc Thuỷ thì vẫn vượng như thường.Như trường hợp nhà Khôn sơn Cấn hướng vận 8 ,nhà có hướng tinh 8 nằm ở phía Tây Nam (phương toạ) bị Phản ngâm. Nhưng trong vận 8, hướng tinh Bát bạch là vượng tinh, nếu đắc thuỷ thì vẫn tốt như thường.Tuy nhiên, nếu đến cuối vận 8 mà không tu sửa nhà hay dời chỗ ở thì lúc đó tai hoạ mới xảy ra.

LƯỢNG THIÊN XÍCH. St


Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

VÀI NÉT VỀ CHUYẾN ĐI TỪ THIỆN TẠI HÀ NAM

Chùa Thịnh Đại thuộc địa phận xã Đại Cương, huyện Kim Bảng, Tỉnh Hà Nam do thầy Đại đức Thích Việt Hòa làm trụ trì, Thầy Hòa bắt đầu nhận nuôi các cháu bị bố mẹ bỏ rơi, trẻ em lang thang cơ nhỡ từ khi thầy 19 tuổi, đến nay tròn 25 năm nuôi dậy các cháu, thành quả của thầy là đã có 4 con học đại học, trong đó có 2 con đã ra trường, đi làm, và đã giúp thầy nuôi dậy các em.




Thầy Hòa là một người rất phúc hậu và thầy cũng là một người khá vui tính. Thầy chia sẻ, mỗi đứa nhỏ là một kỷ niệm, một câu chuyện cảm động mà thầy không thể nào quên. Lúc đầu nghe thầy gọi các bé bằng các biệt danh tôi không khỏi ngạc nhiên, đứa thì “thằng 9 lạng”, đứa thì “con thùng rác”, nhưng mỗi cái tên đó là một câu chuyện thật thú vị. Bé Hiếu Anh mới lọt lòng hơn một ngày, do hoàn cảnh mẹ của cháu không nuôi được cháu đã nhờ bệnh viện Hà Nam gọi điện thoại cho thầy, và thầy đã đến nhận cháu về nuôi. Có bé mới lọt lòng mẹ đã đặt cháu vào thùng rác trước cổng chùa, và bây giờ cháu đã 4 tuổi, có bé khi sinh ra có 9 lạng, mẹ cháu đã bỏ cháu vào vỏ thùng mỳ tôm và đặt trước cổng chùa...

Hiện nay cái khó khăn lớn nhất của thầy Hòa, đó là các cháu ngày một lớn khôn và phải tới trường, tuy nhiên học phí của các cháu không được ưu đãi hơn các cháu khác, thầy vẫn phải đóng học phí và các chi phí liên quan của các cháu. Thầy nói, tiền ăn thì không lo vì hiện nay thầy có cấy 6 sào ruộng (trước đây là 9 sào), còn rau thì trồng trong vườn của chùa, thầy có nhờ 2 bác cùng quê với thầy hỗ trợ thầy chăm sóc các cháu, chỉ lo tiền học và tiền thuốc men khi các con chẳng may bị ốm đau. Người dân địa phương, các phật tử của chùa cũng thường xuyên qua lại hỗ trợ thầy cơm nước, giặt giũ và trông nom các cháu.


Đại diện diễn đàn lysoviet.vn đã trao món quà nhỏ đến với thầy và các cháu với mong muốn chia sẻ một chút khó khăn, vất vả với thầy. Kính chúc thầy Hòa luôn mạnh khỏe để tiếp tục cưu mang những mảnh đời cơ nhỡ, bất hạnh đã tìm đến cửa Phật và tìm đến với thầy.


Sau đây là một vài hình ảnh:






Thay Mặt Hội Từ Thiện lysoviet.vn

Lâm Thị Hoàn